Cá chép Nhật Bản Nishikigoi tại Nhật Bản, người ta thường thả cá chép Nishikigoi hay còn gọi là cá koi trong các hồ nước ở công viên. Vẻ đẹp của chúng luôn khiến du khách phải dừng bước ngắm nhìn.
Tỉnh
Niigata, miền Trung Nhật Bản nổi tiếng là kinh đô của cá chép Nhật Nishikigoi.
Trong đó, thành phố Ojiya là trung tâm đầu mối cung cấp cá cho các nơi khác.
Với mục đích đề cao thế mạnh của địa phương, thành phố xây dựng công viên chủ
đề về loài cá cảnh rất được ưa chuộng này.
Hồ nước tại công viên chủ đề ở Ojiya có đến 300 con cá chép Nishikigoi đủ màu sắc. Chúng rất dạn dĩ khi tiếp xúc với con người. Cá chép Nhật có tuổi thọ từ 20 đến 30 năm và là một trong những loài cá cảnh được người dân nước này rất yêu thích.
Hồ nước tại công viên chủ đề ở Ojiya có đến 300 con cá chép Nishikigoi đủ màu sắc. Chúng rất dạn dĩ khi tiếp xúc với con người. Cá chép Nhật có tuổi thọ từ 20 đến 30 năm và là một trong những loài cá cảnh được người dân nước này rất yêu thích.
Cá chép rất được người Nhật ưa chuộng nuôi làm cảnh Cuộc thi
đánh giá cá chép Nishikigoi được tổ chức hằng năm tại tỉnh Niigata. Cuộc thi là
dịp để những người chơi cá chép trong tỉnh và các nơi khác mang cá của họ đến
tranh tài. Có khoảng 80 loại cá chép Nishikigoi với tổng cộng 900 con góp mặt tại
cuộc thi. Mỗi loại mang một vẻ đẹp riêng. Vậy cá chép Nishikigoi sở hữu những đặc
điểm như thế nào mới được công nhận là đẹp?.
Đầu
tiên, người ta quan sát chú cá từ đầu đến đuôi để xem vóc dáng của từng chú cá.
Ngoài sự nổi bật của hoa văn, độ béo, gầy của cá cũng là yếu tố quan trọng.
Những con cá Nishikigoi đẹp có vòng bụng không quá to, hình thể của nó giống
như cuộn chỉ, nghĩa là kích thước từ phần ngực phải thon gọn dần đến phần đuôi.
Yếu tố
quan trọng thứ hai là vẻ đẹp của vảy cá. Chủng loại cá chép Kohaku nổi tiếng
với lớp vảy trắng như tuyết xen lẫn những đốm hoa văn đỏ rực rỡ. Kohaku là đại
diện tiêu biểu cho cá chép Nishikigoi. Giống cá này rất được người Nhật yêu
thích vì họ quan niệm rằng, sự kết hợp giữa hai màu trắng – đỏ tượng trưng cho
điều may mắn. Kohaku là giống cá chép Nishikigoi được lai tạo đầu tiên tại
Nhật.
Cá chép Taisho Sanke ra đời vào những năm đầu thế kỉ XX, điểm
đặc biệt của giống cá này là có thêm những đốm hoa văn màu đen sumi xen lẫn những
mảng màu trắng – đỏ tương tự như cá chép Kohaku. Vị trí của màu đen sumi làm nổi
bật tổng thể hoa văn trên thân cá.
Ogon là giống cá chép sở hữu màu vàng kim óng ánh từ đầu đến
đuôi. Nó được lai tạo thành công vào năm 1947 và là một trong những giống cáNishikigoi nổi tiếng nhất của Nhật.
Cá chép đỏ Aka Matsuba thu hút sự chú ý của mọi người bởi hoa
văn độc đáo của nó. Vảy cá là sự kết hợp giữa sắc đỏ xen lẫn những đốm hoa văn
đen đều đặn tựa như cấu tạo của quả thông.
Pearl Ginrin là giống cá chép được người Nhật ví như vẻ đẹp của
ngọc trai nhờ điểm sáng lấp lánh ở giữa mỗi mảnh vảy trên thân cá. Kin ginrin là từ mà người Nhật dùng để gọi giống cáNishi-kigoi sở hữu lớp vảy lóng lánh này. Trong đó, girin là cá chép có vảy
sáng bạc và kinrin là cá chép có vảy sáng vàng.
Một yếu
tố quan trọng nữa để đánh giá vẻ đẹp của cá koi là râu của nó. Râu cá phải dài,
hai bên râu phải đều nhau. Nếu một con cá koi có râu bị đứt hoặc bị dị tật thì
giá trị của nó sẽ giảm sút đáng kể.
Tóm
lại, một con cá chép nishi-kigoi có giá trị cao cần đáp ứng các tiêu chí về vẻ
đẹp màu sắc, hoa văn, hình thể, độ dài thân cá và cả sự cân đối của cặp râu. Từ
lâu, người Nhật đã xem cá chép Nishikigoi là một phần của nền tảng cuộc sống,
nó mang nhiều ý nghĩa văn hóa tốt đẹp.
Một khu
vườn điển hình của người Nhật luôn có hồ nước dùng để thả cá chép Nishikigoi.
Cá chép koi đủ màu sắc là yếu tố không thể thiếu để tạo nên cảnh quan kiến trúc
vườn. Sự hiện diện của chúng làm cho quang cảnh hồ nước thêm sinh động. Trong
hồ, người ta thường thả nhiều giống cá koi đủ kích cỡ và hoa văn.
Trên thị trường cá chép cảnh thế giới, cá koi Nhật Bản được xếp
vào loại xuất sắc, đắt giá và nổi tiếng. Ở Nhật, ngày 5 tháng 5 là ngày Tết các
bé trai – Kodomo no hi. Vào ngày này hàng năm, người Nhật dựng cờ cá chép đủ
màu sắc ở phía trước hiên nhà. Họ cho rằng, cờ cá chép tượng trưng cho loài cá
sinh ra là để bơi ngược dòng sông, vượt vũ môn hóa thành rồng mà kiêu hãnh tung
bay trên bầu trời cao rộng. Đó cũng là ước nguyện mà các bậc cha mẹ muốn gửi gắm
đến con trai của họ.
Cờ koi-nobori đại diện cho cá chép Nikishigoi. Một cột cờ thường
có nhiều màu: đen, đỏ, xanh dương, xanh lá, vàng, tím. Lá cờ màu đen tượng
trưng cho người cha trong gia đình, màu đỏ là người anh cả, các màu khác là những
người con trai thứ. Gia đình nào có bao nhiêu con trai thì sẽ có bấy nhiêu lá cờ
cá chép, lá cờ của người cha luôn có kích thước lớn hơn tất cả giống như một
con cá chép đầu đàn dẫn dắt cả đàn cá cùng bay lên trời.
Lá cờ
cá chép phổ biến vào thế kỉ XVIII thời Edo chỉ được trang trí với 2 màu chủ đạo
đen – trắng đại diện cho loài cá chép đen truyền thống bởi vào thời điểm này,
cá chép Nishikigoi chưa được lai tạo.
Đến
những năm 1820, Nhật Bản mới bắt đầu cho ra đời cá chép màu Nishikigoi. Việc
lai tạo được thực hiện tại những hồ nước nằm trên núi ở khu vực miền Trung tỉnh
Niigata. Quá trình lai tạo cá chép Nishikigoi được tiến hành sau khi xuất hiện
những con cá chép có sắc tố xanh đột biến trong đàn cá nuôi của người dân.
Thế hệ
lai đầu tiên của cá chép màu Nishikigoi là loại cá chép chỉ toàn màu trắng, kế
đến là cá chép trắng xen lẫn những đốm hoa văn đỏ. Ban đầu, chúng là những mảng
hoa văn đơn giản, nhưng ở các giống về sau, hình dáng của các mẫu hoa văn đỏ
trên mình cá càng trở nên phong phú và đẹp mắt hơn. Tuy nhiên, trong thời gian
đầu, vẻ đẹp của cá chép màu Nishikigoi hoàn toàn không được phổ biến ra bên
ngoài.
Năm
1914, Nhật Bản tổ chức hội chợ triển lãm toàn quốc tại thủ đô Tokyo nhằm thúc
đẩy sản xuất nội địa. Tham gia hội chợ, những người nuôi cá chép đã giới thiệu
với công chúng 20 con cá koi Kawari quí hiếm. Những mảng hoa văn tuyệt đẹp trên
mình cá chúng đã thu hút sự chú ý đặc biệt của khách tham quan. Từ sau sự kiện
này, danh tiếng của cá chép màu Nishikigoi vươn ra khỏi Niigata và được cả nước
biết đến.
Lúc bấy
giờ, cá chép koi là mặt hàng hiếm và đắt giá, chỉ giới thượng lưu mới đủ khả
năng theo đuổi thú chơi này. Vì vậy, những con cá koi nhiều màu sắc ung dung
bơi lội dưới làn nước trong xanh là khao khát của nhiều người. Cá chép koi còn
là niềm đam mê của cựu Thủ tướng Nhật Bản Tanaka Kakuei, người đã chủ trương
kiến thiết mạnh mẽ cơ sở hạ tầng của nước Nhật giai đoạn sau Chiến tranh Thế
giới thứ II.
Vào
những năm 1990, cá chép Nishikigoi của Nhật Bản phổ biến ra nước ngoài và trở
nên nổi tiếng khắp thế giới. Hiện nay, tại Nhật Bản, cá chép Nishikigoi là sinh
vật cảnh rất thịnh hành. Cùng với xu hướng này, các câu lạc bộ cá chép cảnh
cũng được thành lập. Cá koi là loài vật rất dạn dĩ, chúng không ngần ngại khi
tiếp xúc với con người. Một con cá koi được người nuôi bế trên tay cho ăn là
hình ảnh đã quá quen thuộc.
Từ khi
sinh ra đến lúc trưởng thành, cá Nishikigoi phải được nuôi trong ao nuôi ngoài
tự nhiên suốt 4 năm. Kích thước của chúng khi trưởng thành đạt từ 60 cm đến 70
cm. Những chú cá Nishikigoi hoa văn tuyệt đẹp tung tăng bơi lội trong hồ cảnh
là thành quả lao động lâu dài và khó nhọc của người nuôi. Công lao đó được đền
bù bằng giá trị thương phẩm cao và danh tiếng của cá koi Nhật Bản trên thị
trường thế giới.
Sưu tầm






















